Что такое кофе? Cà phê là gì?

Все мы знаем, что кофе – это коричневые зерна… Но если Вы путешествовали в странах, где выращивают кофе, Вы были бы удивлены, увидев, что кофе растёт на деревьях, и это вовсе не зерна, а ягоды…. Chúng ta đều biết rằng cà phê - đó là hạt màu nâu ... Nhưng nếu bạn đang đi du lịch ở những nước mà cà phê được trồng, bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy cà phê mọc trên cây, và đây không phải là hạt, và quả .... Которые еще называют вишни. Còn gọi là anh đào. Кофейные деревья могут достигать 30 футов в высоту, но как правило, их обрезают они больше похожи на кусты. Cây cà phê có thể đạt tới 30 feet chiều cao, nhưng thường chúng bị cắt, họ đều giống như bụi cây. Кофейное дерево покрыто блестящими темно-зелеными листьями, растущими в парах, расположенные друг напротив друга. Cây cà phê được bao phủ bởi lá màu xanh đậm bóng mà phát triển trong cặp đối diện nhau. Кофейные ягоды или вишни, как их еще называют, растут вдоль ветвей дерева. Quả cà phê hoặc anh đào, như chúng được gọi là, phát triển cùng các chi nhánh của một cây. Процесс созревания ягод достаточно медленный, занимает практически год, после цветения белых цветов с запахом жасмина. Quá trình trưởng thành là khá chậm, phải mất gần một năm, sau khi ra hoa hoa trắng với mùi hoa nhài. Кофейное дерево растёт и плодоносит в непрерывном цикле круглый год, поэтому нередко можно увидеть на одном дереве одновременно и цветы и зеленые и спелые ягоды. Cây cà phê phát triển và sinh hoa trái trong một chu trình liên tục trong suốt cả năm, vì vậy người ta thường có thể nhìn thấy cùng một cây cùng lúc và những bông hoa và quả xanh và chín. Продолжительность жизни кофейных деревьев 20-30 лет. Tuổi thọ từ 20-30 năm cây cà phê. Кофейные деревья способны расти в широком диапазоне климатических условий, кроме суровых колебаний температуры. Cây cà phê có thể phát triển trong một loạt các điều kiện khí hậu, ngoại trừ biến động nhiệt độ khắc nghiệt. Оптимально, они предпочитают богатые почвы и умеренные температуры, с частыми дождями и не очень ярким солнцем. Tối ưu, họ thích đất màu và nhiệt độ nhẹ, với mưa thường xuyên và không ánh nắng mặt trời rất tươi sáng.

Ботаническая классификация. Phân loại thực vật.

Кофе ведет свое биологическое начало из рода растений известных как Coffea. Cà phê có nguồn gốc từ các chi sinh học của nhà máy được gọi là Cà phê. В роду насчитывалось более 500 родов и 6000 видов тропических деревьев и кустарников. Trong cuộc đua có hơn 500 chi và 6.000 loài cây nhiệt đới và cây bụi. Род таких деревьев был впервые описан в 18 веке шведским ботаником, Карлом Линней, который также описал Coffea Арабика в 1753 году. Chi cây đã được mô tả lần đầu tiên vào thế kỷ 18 Thụy Điển thực vật học Carl Linnaeus, ai cũng mô tả Coffea arabica năm 1753. Ботаники не согласились с классификацией Карла Линнея. Thực vật học không đồng ý với việc phân loại Carl Linnaeus. Это и понятно, учитывая, что кофейные деревья могут колебаться от небольшого кустарника до высоких деревьев, с листьями от 1 до 40 см., и цвета от пурпурного или желтого до темно зеленого. Điều này là dễ hiểu, cho rằng cây cà phê có thể là từ cây bụi nhỏ để cây cao lá 1-40 cm, và các màu sắc từ màu tím sang màu vàng đến xanh lục đậm. Другими ботаниками было подсчитано, что есть где-то от 25 до 100 видов растений кофе. Trong thực vật học khác, người ta ước tính rằng có bất cứ nơi nào 25-100 loài cây cà phê.

В индустрии коммерческого кофе есть два важных вида кофе – арабика и Canephora, чаще называемый робуста. Trong ngành công nghiệp cà phê thương mại, có hai loại quan trọng của cà phê - Arabica và vối, thường được gọi là cà phê Robusta.

Кофе Арабика. Cà phê arabica.

Виды: Bourbon, Typica, Caturra, Mundo Novo, Tico, Сан-Рамон, ямайский Blue Mountain. Loại: Bourbon, Typica, Caturra, Mundo Novo, Tico, San Ramon, Jamaican Blue Mountain.

Кофе Арабика происходит от оригинальных кофейных деревьев, обнаружены в Эфиопии. Cà phê Arabica có nguồn gốc từ cây cà phê ban đầu đã được tìm thấy ở Ethiopia. Эти деревья дают прекрасный, мягкий, ароматный кофе и составляют примерно 70 % производства кофе в мире. Những cây này cung cấp một xinh đẹp, ngọt, cà phê thơm và chiếm khoảng 70% sản lượng cà phê trên thế giới. На мировом рынке кофе арабика стоит дороже робусты. Thị trường thế giới đang đắt hơn cà phê arabica robusta. Деревья арабики произрастают в диапазоне от 2000 до 6000 метров над уровнем моря, хотя оптимальная высота варьируется в зависимости от близости к экватору. Cây cà phê arabica tăng trong khoảng từ 2.000 đến 6.000 mét trên mực nước biển, mặc dù chiều cao tối ưu khác nhau tùy thuộc vào mức độ gần với đường xích đạo. Важным фактором является то, что температура должна оставаться умеренной, не слишком жаркой и не слишком холодной, в идеале от 15 до 24 и около 60 дюймов осадков в год. Yếu tố quan trọng là nhiệt độ nên vẫn còn hợp lý không quá nóng, không quá lạnh, tốt nhất là từ 15 đến 24 và 60 inch của lượng mưa mỗi năm. Деревья арабики не любят холодную погоду, а мороз их может убить. Cây cà phê arabica không thích thời tiết lạnh và sương giá có thể giết chết họ. Деревья арабики дорого выращивать, как как эти деревья произрастают на крутой местности. Cây cà phê arabica đắt tiền để phát triển, như những cây mọc trên địa hình dốc. Кроме того, деревья арабики более склонны к болезням чем робуста, поэтому требуют дополнительной заботы и внимания. Ngoài ra, cây chè dễ bị bệnh hơn so với cà phê robusta, do đó, đòi hỏi sự quan tâm và chú ý. Деревья арабики опыляются самостоятельно. Cây cà phê Arabica được thụ phấn của chính mình. Кофейные зерна плоские и более вытянутые, чем робуста, также они содержат меньше кофеина. Hạt cà phê phẳng và kéo dài hơn Robusta, vì chúng chứa ít caffeine.

Кофе Робуста. Cà phê robusta.

Виды: Робуста. Loài: Robusta.

Большинство деревьев робусты в мире выращивается в Центральной и Западной Африке, части Юго-Восточной Азии, включая Индонезию и Вьетнам, и в Бразилии. Hầu hết các cây trong thế giới của cà phê Robusta được trồng ở Trung và Tây Phi, các bộ phận của Đông Nam Á, bao gồm Indonesia, Việt Nam và Brazil. Производство робусты растет, хотя на его долю приходится около 30 % мирового рынка. Sản xuất cà phê robusta ngày càng tăng, mặc dù nó chiếm khoảng 30% thị trường thế giới. Генетически робуста несет меньше хромосом, чем арабика и кофейное зерно имеет тенденцию быть немного круглее и меньше, чем зерно арабики. Di truyền Robusta có nhiễm sắc thể ít hơn so với cà phê Arabica và có xu hướng được một chút tròn và nhỏ hơn một hạt cà phê Arabica. Деревья робусты более устойчивы к болезням и паразита, что позволяет его дешевле и легче выращивать. Cây cà phê robusta nhiều khả năng chống bệnh và ký sinh trùng, cho phép nó rẻ hơn và dễ dàng hơn để phát triển. Деревья робусты имеют преимущества и в том, что способны выдержать более теплый климат, предпочитая температуру между 24 градусами и 30 градусами, что позволяет расти более низко, чем арабика. Cây cà phê robusta có lợi thế và có khả năng chịu được một khí hậu ấm áp hơn, thích nhiệt độ từ 24 độ và 30 độ, cho phép bạn phát triển thấp hơn so với cà phê Arabica. Осадков для робусты необходимо около 60 дюймов в год. Lượng mưa cho robusta cần khoảng 60 inch một năm. Робуста, как и арабика, может не выдержать морозов. Robusta và Arabica như, không thể chịu được sương giá. По сравнению с арабикой, робуста имеет насыщенный вкус и примерно на 50-60% больше кофеина. So với cà phê Arabica, Robusta có một hương vị phong phú và caffeine hơn khoảng 50-60%. Робуста используется главным образом в смесях или растворимом кофе. Robusta chủ yếu được sử dụng trong hỗn hợp hay cà phê hòa tan.


Анатомия кофейной вишни. Giải phẫu của anh đào cà phê.

Наружная оболочка кофейной вишни называется внеплодник. Lớp vỏ bên ngoài được gọi là cà phê anh đào exocarp.

Под ним слой мезокарпия – это тонкий слой мякоти, а затем слизистый слой, который называется паренхима. Mesocarp lớp bên dưới nó - một lớp mỏng bột giấy, và sau đó là lớp niêm mạc, được gọi là các nhu mô.

  Под этим слоем находится эндокарпи й, более известный как пергаментная оболочка. Dưới lớp này là lần thứ endocarp, hay còn gọi là phong bì da.

Внутри пергаментной оболочки бок-о-бок лежат два зерна, которые отделены между собой еще одним слоем тонкой мембраны, которая имеет биологическое название – спермодерма, также этот слой называют «серебряная пленка». Bên trong bên màng giấy da bên trên hai hạt được tách biệt với nhau bằng một lớp màng mỏng có tên sinh học - spermoderm, lớp này được gọi là "bộ phim bạc".

Спасибо! Cảm ơn bạn! Ваш заказ принят! Đặt hàng của bạn được chấp nhận!
Мы в Вконтакте Chúng tôi trong Facebook
Мы на Facebook Chúng tôi đang ở trên Facebook
Мы в Twitter Theo chúng tôi trên Twitter
Twitter